Chuyển đổi số Kiến thức chuyển đổi sốVì sao khu vực công cần chuyển đổi số? 7 Lý do cốt yếu khi chuyển đổi số khu vực công
Vì sao khu vực công cần chuyển đổi số? 7 lý do cốt yếu
8 giờ trước 12 lượt xem

Vì sao khu vực công cần chuyển đổi số? 7 Lý do cốt yếu khi chuyển đổi số khu vực công

Hiện nay, người dân chỉ cần 30 giây để đặt một chuyến xe qua ứng dụng, nhưng để hoàn thành một bộ hồ sơ hành chính thông thường thì vẫn phải dành ra 2 đến 3 giờ xếp hàng chờ đợi. Khoảng cách đó không còn đơn thuần là bất tiện. Với người dân đã quen với tiêu chuẩn dịch vụ số trong cuộc sống hàng ngày, sự chênh lệch giữa dịch vụ tư nhân và dịch vụ công đang ngày càng khó chấp nhận hơn. Và chi phí của khoảng cách đó không chỉ được tính bằng thời gian mà còn tính bằng ngân sách nhà nước, cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ và niềm tin của người dân vào bộ máy công quyền. Bài viết này phân tích 7 lý do cụ thể vì sao khu vực công cần chuyển đổi số để mỗi người chúng ta nhận thức được mức độ quan trọng của sự thay đổi này.

1. Áp lực cạnh tranh quốc tế và cam kết chính trị cao nhất

Khi nhìn vào bản đồ chuyển đổi số khu vực công toàn cầu, không khó nhận ra khoảng cách giữa các quốc gia đi đầu và những nước còn lại không đứng yên mà đang rộng ra từng năm. Vấn đề ở đây không đơn giản là câu chuyện về công nghệ. Đây là câu chuyện về vị thế cạnh tranh quốc gia, thể hiện qua ba khía cạnh then chốt:

  • Thu hút đầu tư nước ngoài
  • Giữ chân nhân tài trong nước
  • Tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế dài hạn

Nhìn ra thế giới, các quốc gia đi đầu đã tạo khoảng cách rất rõ:

  • Estonia: số hóa 99% dịch vụ công lên môi trường trực tuyến, quá trình bắt đầu từ năm 2000
  • Singapore, Hàn Quốc, Đan Mạch: liên tục giữ vị trí dẫn đầu trong Chỉ số Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc (EGDI) qua nhiều kỳ đánh giá

Điều khiến những quốc gia này vượt trội không chỉ là họ phục vụ người dân tốt hơn, mà còn là họ đã tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn nhiều so với các quốc gia vẫn dựa vào thủ tục giấy tờ.

Ngày nay, khi nhà đầu tư nước ngoài cân nhắc địa điểm đặt nhà máy hoặc trụ sở khu vực, họ thường đánh giá ba thủ tục then chốt có được số hóa hay không:

  • Thành lập doanh nghiệp
  • Cấp phép xây dựng
  • Khai báo thuế

Thủ tục số giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí ngay từ những ngày đầu, và điều đó có thể trở thành yếu tố quyết định khi so sánh giữa các điểm đến đầu tư.

Đặt Việt Nam vào bối cảnh chung đó, kết quả mới nhất khá đáng ghi nhận:

  • Vị trí năm 2024 71/193 quốc gia trong Khảo sát Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc (UN E-Government Survey 2024)
  • Mức tăng +15 bậc so với kỳ đánh giá trước
  • Mục tiêu đến năm 2030 vào Top 50
  • Khoảng cách cần thu hẹp hơn 20 bậc trong vòng 6 năm

Để đạt mục tiêu này, tốc độ chuyển đổi phải cao hơn đáng kể so với những gì đã làm được trong giai đoạn vừa qua.

Cam kết từ cấp cao nhất của hệ thống chính trị cũng đang thể hiện rất rõ. Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là tín hiệu rõ ràng cho thấy chuyển đổi số không còn là chủ đề riêng của một Bộ hay một ngành, mà đã trở thành định hướng chiến lược của cả đất nước.

Cam kết đó cũng gắn chặt với mục tiêu kinh tế: mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP hai chữ số trong giai đoạn 2026 - 2030 sẽ không thể đạt được nếu bộ máy khu vực công vẫn vận hành theo cách cũ với quy trình thủ công và dữ liệu phân tán.

Do sự cạnh tranh từ nền chính trị và kinh tế chung của nên khu vực công phải tiến hành chuyển đổi số

2. Người dân kỳ vọng dịch vụ công ngang bằng dịch vụ tư nhân

Một sự thay đổi âm thầm nhưng mạnh mẽ đang diễn ra trong kỳ vọng của người dân Việt Nam. Khi cuộc sống hàng ngày đã quen với:

  • Đặt vé máy bay trong 2 phút
  • Chuyển tiền trong vài giây
  • Nhận kết quả xét nghiệm qua điện thoại ngay trong ngày

Thì câu hỏi "tại sao dịch vụ công lại khác như vậy?" sẽ ngày càng được đặt ra nhiều hơn, và ngày càng khó biện minh hơn.

Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2024, tỷ lệ người dân Việt Nam sử dụng smartphone đã đạt 84% dân số, vượt xa mức trung bình toàn cầu 63%. Báo cáo Q&Me 2025 cho biết người Việt dành trung bình 7,3 giờ mỗi ngày trên điện thoại và sử dụng gần 29 ứng dụng khác nhau mỗi tuần. Đa số trong đó là trải nghiệm dịch vụ số 24/7 trong các lĩnh vực:

  • Đặt xe và giao thông
  • Thanh toán và ngân hàng
  • Mua hàng trực tuyến
  • Khám bệnh từ xa

Tất cả đều có thể thực hiện mà không cần xếp hàng hay điền mẫu giấy tờ. Khi tiêu chuẩn này đã trở thành điều hiển nhiên trong cuộc sống cá nhân, người dân tự nhiên áp dụng cùng tiêu chuẩn đó khi tiếp cận dịch vụ công và trong phần lớn trường hợp, họ không tìm thấy sự tương đồng nào.

Đáng chú ý, kỳ vọng này không còn giới hạn ở người trẻ hay người thành thị. Nền tảng thanh toán điện tử và ứng dụng di động đã phổ biến đến tận vùng nông thôn, kéo theo sự thay đổi trong kỳ vọng của tất cả các nhóm dân số. Áp lực cải thiện dịch vụ công đang đến từ khắp nơi, không chỉ từ tầng lớp đô thị có học thức cao.

Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa chất lượng dịch vụ công số và mức độ tin tưởng của người dân vào chính quyền. Đáng chú ý, Singapore và Estonia không đo lường thành công của chuyển đổi số bằng:

  • Số lượng phần mềm được triển khai
  • Tổng ngân sách đầu tư công nghệ

Thay vào đó, họ đo lường bằng:

  • Điểm hài lòng của công dân

Cách đo lường này đặt đúng người vào đúng trung tâm của câu chuyện, thay vì để công nghệ chiếm vị trí trung tâm.

Song song với sự phát triển của công nghệ thì kỳ vọng của người dân cũng là lý do cần chuyển đổi số

3. Minh bạch hóa bộ máy và phòng chống tham nhũng

Tham nhũng và tiêu cực trong dịch vụ hành chính công không phải tự nhiên mà có. Chúng thường phát sinh tại những điểm có ba đặc điểm chung:

  • Tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ và người dân
  • Quy trình không được ghi nhận rõ ràng
  • Kết quả phụ thuộc vào quyết định của một cá nhân cụ thể

Chuyển đổi số không tiếp cận vấn đề này bằng cách tăng cường thanh tra hay trừng phạt nhiều hơn. Nó tiếp cận bằng cách xóa đi chính những điều kiện cho phép tham nhũng tồn tại.

Cụ thể, khi người dân nộp hồ sơ qua hệ thống điện tử và hồ sơ được xử lý theo quy trình tự động:

  • Những cuộc gặp gỡ trực tiếp không cần thiết gần như biến mất
  • Toàn bộ quy trình được hệ thống số ghi lại đầy đủ: ai phê duyệt gì, vào lúc nào, kết quả ra sao, mất bao nhiêu thời gian
  • Trách nhiệm giải trình không còn phụ thuộc vào ý thức cá nhân mà được khắc sâu vào cấu trúc hệ thống

Đây là mức độ minh bạch mà hệ thống giấy tờ không bao giờ đạt được, dù có ban hành bao nhiêu quy định hay tổ chức bao nhiêu đợt thanh tra.

Bài học từ Hàn Quốc

Hệ thống OPEN (Online Procedures Enhancement for civil applications) của Chính quyền Seoul, triển khai từ năm 1999, là một trong những ví dụ thành công nổi tiếng nhất trên thế giới về sử dụng công nghệ số để chống tham nhũng:

  • Giảm 30,9% số cán bộ tham nhũng được phát hiện qua kiểm toán (từ trung bình 114,5 xuống còn 79,1 cán bộ)
  • 78,7% người dân Seoul được khảo sát tin rằng hệ thống đã giảm tham nhũng hiệu quả
  • 84,3% người dân cho rằng hệ thống đã góp phần tăng minh bạch trong quản lý thành phố

Hệ thống OPEN sau đó được Liên Hợp Quốc, OECD và World Bank công nhận, trở thành mô hình tham khảo cho nhiều quốc gia khác. Bên cạnh đó, khi ngân sách nhà nước, kết quả đấu thầu và các quyết định hành chính được công khai trực tuyến, báo chí, người dân và các tổ chức xã hội có thể giám sát thường xuyên mà không cần gửi công văn yêu cầu thông tin.

Việt Nam đang ở đâu?

Theo công bố của Bộ Thông tin và Truyền thông (Q1/2024),Việt Nam đã đạt một số kết quả ban đầu:

  • 73% các Bộ, ngành và địa phương đã ban hành danh mục cơ sở dữ liệu (tăng 8% so với 2023)
  • 59% đã ban hành danh mục, kế hoạch cung cấp dữ liệu mở (tăng 7% so với 2023)
  • 2.398 cơ sở dữ liệu thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau (tăng 14,5%)

Đây là bước đầu quan trọng, nhưng cần lưu ý sự khác biệt:

  • Đã làm: công khai danh sách các dữ liệu đang nắm giữ
  • Cần làm tiếp: công khai nội dung dữ liệu thực sự để người dân và doanh nghiệp có thể sử dụng

Chuyển đổi số khu vực công giúp giảm tình trạng tham nhũng, tăng minh bạch trong bộ máy nhà nước

4. Chi phí vận hành bộ máy thủ công quá lớn

Khi thảo luận về chuyển đổi số khu vực công, câu hỏi thường được đặt ra đầu tiên là "Đầu tư như vậy thì tốn bao nhiêu?" Nhưng câu hỏi đúng hơn, và ít được đặt ra hơn, lại là:

"Không chuyển đổi số thì đang tiêu tốn bao nhiêu của xã hội?"

Con số ở vế sau thường lớn hơn nhiều so với những gì người ta hình dung.

Chi phí trực tiếp: thời gian và nhân lực bị tiêu tốn

Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của doanh nghiệp và người dân tại Việt Nam, khi tính đủ cả thời gian đi lại, sao chép hồ sơ, xếp hàng chờ đợi và các khoản phí phát sinh, lên đến mức rất lớn mỗi năm. Nhân với hàng triệu hồ sơ được xử lý mỗi ngày trên toàn quốc, tổng nhân lực và thời gian tiêu tốn vào những việc hoàn toàn có thể tự động hóa là khổng lồ.

Bài học từ Estonia cho thấy tiềm năng tiết kiệm là rất lớn:

  • Tiết kiệm 2% GDP/năm nhờ triển khai chữ ký số và X-Road
  • 5 ngày làm việc/năm được tiết kiệm cho mỗi công dân nhờ chữ ký số
  • 800 năm thời gian làm việc đã tiết kiệm nhờ giảm thủ tục giấy tờ
  • Đăng ký kinh doanh nhanh gấp 14 lần so với cách truyền thống

Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực

Sau khi triển khai cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cải cách số hóa, theo Cục Chuyển đổi số Quốc gia (Bộ TT&TT):

  • Khởi sự kinh doanh: giảm từ 8 thủ tục/16 ngày xuống còn 3 thủ tục/6 ngày
  • Thủ tục đất đai: thời gian rút ngắn 15-45% so với trước
  • 41 triệu giao dịch điện tử qua CSDL đăng ký doanh nghiệp, kết nối với 13 bộ, ngành và 63/63 địa phương

Chi phí ẩn: những quyết định kém chất lượng

Ngoài chi phí trực tiếp, tình trạng "cát cứ dữ liệu" giữa các Bộ, ngành còn tạo ra một chi phí ẩn mà ít người nhìn thấy: chi phí của những quyết định kém chất lượng.

Khi mỗi cơ quan xây dựng hệ thống riêng lẻ với chuẩn kỹ thuật khác nhau:

  • Tổng hợp một báo cáo quốc gia có thể mất vài tháng thu thập thủ công
  • Quyết định chính sách phải dựa trên số liệu lỗi thời hoặc không đầy đủ
  • Hậu quả: chính sách kém hiệu quả, hoặc không đến đúng đối tượng cần hỗ trợ

Việt Nam đang nỗ lực khắc phục bằng việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia. Theo Quyết định 11/2026/QĐ-TTg ngày 28/3/2026, danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia đã được mở rộng từ 7 CSDL ban đầu (dân cư, doanh nghiệp, bảo hiểm, hộ tịch, đất đai, tài chính, cán bộ-công chức-viên chức) lên 20 CSDL, bổ sung thêm các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, an sinh xã hội, y tế, giáo dục, biến đổi khí hậu.

Khi các CSDL này được kết nối liên thông và cập nhật theo thời gian thực, chất lượng ra quyết định ở mọi cấp sẽ cải thiện đáng kể.

Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý giúp giảm chi phí vận hành so với thủ công

5. Xây dựng hệ sinh thái số quốc gia

Chuyển đổi số khu vực công không phải là câu chuyện nội bộ của bộ máy nhà nước. Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành hệ sinh thái số quốc gia, nơi ba thành phần kết nối thành một thể thống nhất:

  • Chính phủ số - bộ máy vận hành trên nền tảng dữ liệu
  • Kinh tế số - doanh nghiệp tạo giá trị từ công nghệ
  • Xã hội số - người dân sống và làm việc trong môi trường số

Theo Quyết định 749/QĐ-TTg (03/6/2020),khu vực công giữ vai trò kiến tạo nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội phát triển trên đó, thể hiện qua ba hướng:

1. Kiến tạo hạ tầng dùng chung

Mạng băng rộng, trung tâm dữ liệu quốc gia, định danh số (VNeID),trục kết nối dữ liệu (NDXP) những hạ tầng mà chỉ khu vực công mới có đủ nguồn lực và thẩm quyền xây dựng. Khi đã có, toàn bộ kinh tế và xã hội đều hưởng lợi.

2. Ban hành khung pháp lý đồng bộ

Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 (hiệu lực 01/7/2024),quy định về chữ ký số, hóa đơn điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân tạo "sân chơi rõ ràng" để doanh nghiệp tư nhân yên tâm đầu tư vào kinh tế số.

3. Mở dữ liệu công có kiểm soát

Theo Quyết định 11/2026/QĐ-TTg, Việt Nam mở rộng danh mục từ 7 lên 20 cơ sở dữ liệu quốc gia (dân cư, doanh nghiệp, đất đai, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, an sinh xã hội…). Khi được mở theo đúng quy định bảo mật, các CSDL này trở thành "nguyên liệu" để khu vực tư nhân xây dựng sản phẩm và dịch vụ số mới.

Nếu khu vực công chậm trễ trong chuyển đổi số, hệ sinh thái số quốc gia không thể hình thành đầy đủ dù khu vực tư nhân có năng động đến đâu. Chính phủ số là móng, kinh tế số và xã hội số là nhà xây trên móng. Móng yếu thì nhà không thể cao.

Khu vực công chuyển đổi số giúp xây dựng hệ sinh thái số quốc gia toàn diện hơn

6. Ứng phó khủng hoảng và tăng khả năng chống chịu

Đại dịch COVID-19 là bài kiểm tra khắc nghiệt nhất về năng lực ứng phó của khu vực công. Kết quả phân biệt rõ hai nhóm quốc gia:

  • Có hạ tầng số sẵn sàng: triển khai ứng phó nhanh, hiệu quả, đúng đối tượng
  • Thiếu hạ tầng số: mất nhiều tuần để tổng hợp dữ liệu, tỷ lệ thất thoát cao

Bài học từ các nước đi trước

Hàn Quốc, Đài Loan, Estonia đã có thể triển khai nhanh chóng nhờ hạ tầng dữ liệu vững chắc:

  • Hệ thống truy vết tiếp xúc trong vài ngày
  • Phân phối hỗ trợ tài chính đúng đối tượng
  • Họp khủng hoảng và ra quyết định không bị gián đoạn

Họ làm được vì có sẵn dữ liệu để biết chính xác ai cần gì, ở đâu, cần tiếp cận thế nào.

Bài học từ chính Việt Nam

Gói 62.000 tỷ đồng năm 2020 (Nghị quyết 42/NQ-CP) là ví dụ rõ nhất:

  • 62.000 tỷ đồng được phê duyệt
  • Chỉ 14.000 tỷ đồng giải ngân được (~25%)
  • Nhiều lao động tự do, lao động phi chính thức không nhận được hỗ trợ dù đủ điều kiện

Nguyên nhân chính: không có dữ liệu để xác minh và tiếp cận đúng đối tượng trong thời gian ngắn, đặc biệt với lao động phi chính thức (chiếm đa số thị trường lao động).

Đây không phải lỗi của chính sách, mà là hậu quả trực tiếp của việc thiếu hạ tầng dữ liệu.

Thách thức tiếp theo: biến đổi khí hậu

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh nhất từ biến đổi khí hậu, với bão lũ ngày càng khốc liệt và khó lường. Để ứng phó hiệu quả, cần:

  • Hệ thống cảnh báo sớm dựa trên IoT và AI
  • Dữ liệu địa lý cập nhật theo thời gian thực
  • Khả năng điều phối sơ tán đúng người, đúng nơi

Tất cả những điều đó chỉ khả thi khi hạ tầng dữ liệu đã được xây dựng vững chắc từ trước chứ không phải đến khi khủng hoảng xảy ra mới bắt đầu nghĩ đến.

Trong những tình huống nguy cấp, việc chuyển đổi số giúp ứng phó khủng hoảng hiệu quả hơn

7. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Việt Nam không cần phải tự mình mò mẫm từ con số 0. Nhiều quốc gia đã đi trước và để lại cả thành công lẫn thất bại. Nếu tiếp thu đúng cách và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh trong nước, những kinh nghiệm đó có thể giúp Việt Nam rút ngắn đáng kể con đường phía trước.

Estonia Quốc gia số đầu tiên trên thế giới

Bối cảnh xuất phát:

Khi tái lập độc lập năm 1991, Estonia là một quốc gia nhỏ với:

  • Hạ tầng yếu kém từ thời Xô Viết
  • Nguồn lực tài chính hạn chế
  • Dân số chỉ khoảng 1,5 triệu người

Quyết định mạnh dạn: Thay vì số hóa dần dần từ hệ thống cũ, Estonia chọn cách xây dựng chính phủ số hoàn toàn mới từ đầu. Quyết định này tạo ra một nền tảng nhất quán, liên thông thay vì một mớ hệ thống rời rạc được vá víu.

Kết quả ấn tượng (cập nhật 2024):

  • 100% dịch vụ công đã được số hóa (đạt mốc tháng 12/2024)
  • Tiết kiệm 2% GDP mỗi năm nhờ loại bỏ giấy tờ
  • Top 2 trong Chỉ số Chính phủ Điện tử của Liên Hợp Quốc (EGDI 2024)
  • Công dân tiết kiệm 5 ngày làm việc/năm nhờ chữ ký số

Bài học quan trọng nhất: X-Road

Bài học từ Estonia không phải là cách xây dựng các ứng dụng đẹp, mà là cách đầu tư vào hạ tầng dữ liệu nền tảng ngay từ đầu.

Hệ thống X-Road triển khai từ năm 2001 là nền móng của toàn bộ hệ sinh thái chính phủ số Estonia. Đây là "trục kết nối dữ liệu" cho phép các cơ quan nhà nước chia sẻ thông tin an toàn và liền mạch.

X-Road hiện nay (số liệu mới nhất):

  • Kết nối hơn 900 tổ chức công và tư
  • Hỗ trợ 3.000+ dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp
  • Đã được 25+ quốc gia áp dụng (Phần Lan, Azerbaijan, Greenland…)
  • Giúp tiết kiệm tương đương 2.589 năm làm việc

Vì sao X-Road quan trọng?

Không có X-Road, mọi ứng dụng dù thiết kế đẹp đến đâu cũng chỉ là những hòn đảo dữ liệu cô lập không thể tạo ra giá trị cộng hưởng. Đây chính là "nền móng vô hình nhưng không thể thiếu" của bất kỳ chính phủ số nào.

Bài học cho Việt Nam: Đầu tư vào trục kết nối dữ liệu (như Nền tảng tích hợp NDXP) và định danh số (VNeID) phải là ưu tiên trước, không phải sau, khi xây dựng các ứng dụng chính phủ số.

Estonia là quốc gia ứng dụng chuyển đổi số trong nhà nước đầu tiên trên Thế Giới

Singapore - Xây dựng Smart Nation tích hợp từ trung ương đến địa phương

Singapore chọn cách tiếp cận khác Estonia nhưng đạt kết quả tương đương ấn tượng: xây dựng một hệ thống định danh số duy nhất cho mọi dịch vụ công và tư.

Singpass danh tính số quốc gia (số liệu 2024):

  • 4,5 triệu người dùng = 97% dân số từ 15 tuổi trở lên
  • 350 triệu giao dịch mỗi năm
  • 700+ tổ chức cung cấp 2.000+ dịch vụ qua Singpass
  • Một danh tính cho mọi dịch vụ: khai thuế, đặt khám bệnh, đăng ký con đi học, mở tài khoản ngân hàng…

Bài học từ Singapore:

Tránh để mỗi Bộ, ngành tự xây hệ thống định danh riêng. Sự phân mảnh đó đặt gánh nặng lên người dân và doanh nghiệp, không phải lên khu vực công. Và khi những "tường ngăn vô hình" giữa các hệ thống đã hình thành, chi phí phá bỏ về sau sẽ lớn hơn rất nhiều so với chi phí xây dựng đúng cách ngay từ đầu.

Singapore lại chọn cách xây dựng toàn bộ dịch vụ công tích hợp trong một hệ thống duy nhất

Những ưu tiên phù hợp nhất với bối cảnh Việt Nam

Việt Nam có những đặc thù riêng cần tính đến khi học hỏi từ nước ngoài:

Cơ hội lịch sử:

  • Kể từ 12/6/2025 (Nghị quyết 202/2025/QH15),Việt Nam có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh (giảm từ 63),vận hành theo mô hình chính quyền 2 cấp (tỉnh + xã)
  • Đây là thời điểm vàng để chuẩn hóa hệ thống dữ liệu và dịch vụ công trên diện rộng

Thách thức cần lưu ý:

  • Khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn vẫn lớn
  • Tỷ lệ dân số nông thôn cao
  • Mức độ kỹ năng số đa dạng theo vùng

Vì vậy không thể copy nguyên xi mô hình Estonia hay Singapore. Dựa trên những đặc thù này, có 3 ưu tiên phù hợp nhất:

Ưu tiên 1: VNeID làm trục định danh số duy nhất

Thay vì để mỗi cơ quan tự xây hệ thống xác thực riêng, cần đầu tư biến VNeID thành danh tính số duy nhất cho mọi người dân, liên thông với tất cả dịch vụ công ở mọi cấp. Việc giảm từ 63 xuống 34 đơn vị hành chính tạo thời điểm thuận lợi để chuẩn hóa thay vì để mỗi đơn vị mới hợp nhất tiếp tục dùng hệ thống cũ.

Ưu tiên 2: Hoàn thiện và kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia

Theo Quyết định 11/2026/QĐ-TTg (hiệu lực 19/5/2026),danh mục đã mở rộng từ 7 lên 20 cơ sở dữ liệu quốc gia. Đây là tài sản số quan trọng nhất mà khu vực công đang nắm giữ. Hoàn thiện và kết nối các CSDL này cần được ưu tiên trước bất kỳ ứng dụng nào khác vì không có nền tảng dữ liệu vững chắc, mọi ứng dụng đều hoạt động không đạt kỳ vọng.

3. Ưu tiên 3: Tận dụng Zalo cho dịch vụ công

Đây là cách tiếp cận thực dụng nhất hiện nay:

  • 79,6 triệu người dùng thường xuyên hàng tháng (cuối 2025)
  • 17.210 Zalo Official Account + 1.205 Mini App của cơ quan nhà nước đang hoạt động
  • Kênh có khả năng tiếp cận rộng nhất ở nông thôn nơi tỷ lệ cài đặt ứng dụng chính phủ chuyên dụng còn rất thấp

Nhìn lại 7 lý do được phân tích trong bài, tất cả đều hướng về cùng một kết luận: câu hỏi về việc khu vực công có cần chuyển đổi số hay không đã không còn cần bàn thêm. Câu hỏi thực sự cần trả lời bây giờ là cần chuyển đổi theo thứ tự ưu tiên nào, ở tốc độ nào và với sự phối hợp ra sao giữa khu vực công và khu vực tư nhân.

CloudGO.vn - Giải pháp chuyển đổi số tinh gọn

  • Hotline: 1900 29 29 90
  • Email: support@cloudgo.vn
  • Website: https://cloudgo.vn

CloudGO - Giải pháp chuyển đổi số tinh gọn

Hơn 2500+ doanh nghiệp Việt đã lựa chọn và triển khai

Tôi muốn được tư vấnTôi muốn dùng thử

Bùi Cao Học

Bùi Cao Học

Chief Executive Officer (CEO)

Bùi Cao Học là chuyên gia công nghệ và nhà sáng lập CloudGO, anh Bùi Cao Học đang tiên phong dẫn dắt sứ mệnh chuyển đổi số tinh gọn, hiệu quả cho hàng nghìn doanh nghiệp tại Việt Nam và Đông Nam Á.

Nhận bài viết mới nhất

CÙNG CHUYÊN MỤC